Saturday, 9 April 2016

Lịch sử thương hiệu DEWITT

Logo DEWITT

Lịch sử thành lập

Sau khi Cédric Johner, một nhãn đồng hồ xa xỉ Thụy Sỹ hiện nay rất thành công ra đời, thế giới lại đón nhận thêm một thành viên mới đến bây giờ cũng có tiếng vang không kém, đó là DeWitt. Năm 2003, Jérôme de Witt, hậu duệ đời thứ năm của em trai hoàng đế Napoléon đã thành lập công ty sản xuất đồng hồ. Khởi nghiệp nghe là muộn, nhưng sự thực DeWitt đã thừa hưởng kinh nghiệm về đồng hồ từ rất sớm. Cách đây hàng trăm năm, một trong những chị em của Napoléon tên là Caroline Murat rất mê sưu tập đồng hồ và có được một gia tài sưu tập đếm không xuể. “Kho báu” ấy được truyền lại qua nhiều đời và là cơ hội cho Jérôme de Witt nghiên cứu, học hỏi, cải tiến và sáng tạo bằng niềm đam mê gia truyền. Đến khi thương hiệu trình làng, những chiếc đồng hồ DeWitt xuất hiện như là sản phẩm đã chắt lọc được những tinh hoa kỹ thuật tinh xảo nhất trong công nghệ chế tác đồng hồ của tiền nhân.

Giới thiệu
Jérôme de witt

Jérôme de Witt, hậu duệ chính thống của hoàng đế Napoléon nước Pháp đã quyết định chọn nghề chế tác đồng hồ để tạo dựng thương hiệu. DeWitt đã phản ảnh nhãn quan của người sáng lập về nghề làm đồng hồ và đã khai sinh những dòng đồng hồ có cấu kết phức tạp nhất, xứng đáng với truyền thống chế tạo đồng hồ xuất sắc của Thụy Sỹ. Chỉ trong 12 năm phát triển, hơn 400 loại đồng hồ và hàng chục bằng sáng chế về công nghệ chế tác đồng hồ đã đưa DeWitt nằm trong bảng phong thần các đồng hồ cao cấp thế giới. Những phẩm chất của Jérôme de Witt như hoàn hảo, qúy phái, truyền thống, đam mê và sáng tạo cũng là phẩm chất sản phẩm của thương hiệu

Bộ sưu tập

Những tên tuổi sản phẩm nổi tiếng lâu nay của DeWitt như Mystérieux Squelette, Force Constante® và Différentiel® đều năm trong những bộ sưu tập sau đây:
Dewitt Academia

Academia: Với thiết kế tiên phong khó tìm ra khuyết điểm, có vòng đệm gờ lắp mặt kính được chạm khắc tạo thành hình dáng 24 cột sảnh hoàng cung theo thiết kế logo độc quyền của thương hiệu. Mặt đồng hồ phơi trần khoe toàn bộ trái tim của bộ chuyển động.
Dewitt Twenty-8-Eight
Twenty-8-Eight: Bộ sưu tập đồng hồ đầy sáng tạo, có các chi tiết chất lượng cao này ra đời để đánh dấu ngày 28 tháng 8, thời điểm đăng quang danh vị “Hoàng Đế nước Pháp” của Napoléon Bonaparte, tiền nhân của nhà sáng lập Jérôme de Witt.
Dewitt classic Jumping Hour CLA.HSA.002

Classic: Là sự hòa quyện giữa cá tính và lịch lãm với bộ chuyển động cơ tự lên giây chỉ giờ, phút, giây, lịch và nhảy giờ.


Dewitt Glorious Knight

Glorious Knight: Là bộ sưu tập đồng hồ đầu tiên làm bằng thép của thương hiệu, đáp ứng các tiêu chuẩn cao DeWitt đề ra. Sự phối hợp tinh tế của chất liệu thép và PVD đen trên khung vỏ cứng cáp càng tôn tinh thần đương đại cho dòng đồng hồ này.
Dewitt The Golden Afternoon

The Golden Afternoon: Dòng đồng hồ thuần nữ tính có bộ chuyển động tự động, đường kính mặt 39mm mang dáng dấp cổ điển như hầu hết đồng hồ của DeWitt, cũng có các cột sảnh hoàng cung như logo của hãng, mặt được thiết kế lại thành 12 cửa nhỏ mở ra khu vườn xinh đẹp
Dewitt Alma

Alma: Là sản phẩm của thế kỷ 21 nhưng in đậm dấu ấn uy quyền của hoàng gia, bộ sưu tập Alma là minh chứng cho tôn chí đặc trưng của DeWitt “biến mỗi sáng tạo đồng hồ thành một vật phẩm thực sự độc đáo”.
Dewitt High Jewellery

High Jewellery: Bằng cách đặt sự tinh xảo kỹ thuật cạnh vẻ đẹp và vật liệu chất lượng cao, các đồng hồ của DeWitt thuộc bộ sưu tập này là những tác phẩm bậc thày, trong cả nghệ thuật chế tác đồng hồ lẫn nữ trang.

Thành tựu

Tất cả thành tựu của DeWitt dường như đã được gom đầy đủ trong viện bảo tàng DeWitt tọa lạc tại tổng hành dinh của công ty vốn đang được gia đình DeWitt điều hành hiện nay. Tại đây, ngoài các dòng sản phẩm đồng hồ của thương hiệu, người ta còn được chiêm ngưỡng bộ sưu tập 250 dụng cụ, trang thiết bị chế tác đồng hồ thủ công lớn nhất thế giới. Nhà máy rộng 5.000 mét vuông cao 3 tầng lầu của công ty ở Meyrin, Geneva, Thụy Sỹ thực ra là một cơ xưởng làm đồng hồ thủ công khổng lồ với 60 nghệ nhân, thực hiện hết các khâu từ thiết kế, sản xuất đến kiểm tra chất lượng. Đây cũng là một cơ xưởng sản xuất độc lập, tự cung tự cấp tất cả các linh kiện để rồi chúng được lắp ráp tinh tế bằng tay cho ra đời những chiếc đồng hồ chính xác, bền bỉ và độc đáo y như những cá tính của người sáng lập.

So với thời gian thành lập khá ngắn, con số 6 bộ sưu tập chính thức của thương hiệu ra đời tính đến nay cũng được xem là một thành tựu vượt bực. Giới tiêu dùng đã hiểu rằng, sở hữu một đồng hồ DeWitt đồng nghĩa với sang trọng đẳng cấp, nổi bật, có mắt thẩm mỹ và cả cá tính nữa. Đội ngũ 15 chuyên gia thân chinh chịu trách nhiệm lắp ráp và điều chỉnh bộ chuyển động do hãng sản xuất. DeWitt cũng không dại bỏ qua cơ hội khai thác tiếng tăm lịch sử của dòng họ hoàng tộc đã từng tạo ấn tượng tốt với khách hàng. Cụ thể là vào tháng 11 năm 2014, DeWitt đã cho vào trong 400 chiếc đồng hồ của mình, mỗi chiếc vài lọn tóc của hoàng đế Napoléon và bán với giá từ 9.900 đến 16.000 franc/đồng hồ. Đắt thế mà vẫn có người bỏ tiền ra mua, đơn giản là vì họ muốn được mang ADN của vị hoàng đế lịch sử trên cổ tay mình.
~coppy~

Thursday, 7 April 2016

Lịch sử thương hiệu De Grisogono

Logo De GRISOGON


de Grisogono đã thành lập một tên cho chính nó trong thế giới của đồng hồ. Sự phát triển tăng vọt của công ty không chỉ có thể được giải thích bởi sự thịnh vượng sáng tạo mà phân biệt hơn hai mươi bộ sưu tập đồng hồ bắt đầu bởi Fawaz Gruosi. Ngoài thiết kế chính thức, người sáng lập và chủ tịch De Grisogono đã liên tục thúc đẩy sự đổi mới, quyết tâm để thở cuộc sống mới vào các truyền thống làm đồng hồ. Dám để thiết kế các hình thức nhấn mạnh chức năng; phát triển các biến ban đầu; chơi với mã thiết kế chỉ để thể hiện tốt hơn nghệ thuật của thời gian đo - đây là nhưng một vài khái niệm cơ bản đằng sau sự phát triển của đồng hồ de Grisogono của.

mở rộng de Grisogono trong lĩnh vực chế tác đồng hồ là ngang bằng với các ổ đĩa và năng lượng của người sáng lập của hãng. Từ Instrumento N ° Uno đến Meccanico dG, công ty đã cho thấy mục tiêu rõ ràng kết hợp nghiên cứu và đổi mới, táo bạo và cá tính, sức mạnh chính thức và quyết tâm. Năm 2011, de Grisogono sẽ nhận tốc độ và dứt khoát vào một chiều hướng mới.

HỘI THẢO XEM

Một vài trăm km từ trụ sở công ty tại Plan-les-Ouates, de Grisogono xưởng chế tác đồng hồ của bao gồm hơn 850 dặm vuông. M (9.150 sq. Ft) của không gian trải rộng trên ba tầng. Tắt theo dõi đánh đập, đây là nơi sáng tạo sáng tạo Fawaz Gruosi của hình - luôn luôn tuân thủ các quy tắc khắt khe nhất của đồng hồ thủ công.

Với một đơn vị nghiên cứu và phát triển, hội thảo có thể tự hào về bản thân là phụ trách của mỗi dự án được thực hiện dưới nhãn hiệu của công ty kể từ khi liên doanh đồng hồ làm đầu tiên của mình vào năm 2000. Nó cũng có thể yêu cầu một loạt các đăng ký bằng sáng chế, trong đó có một liên quan đến hai tương phản hiển thị analog và một mô tả các thiết bị của một màn hình hiển thị ngày quá khổ. de Grisogono vượt trội trong phong trào phù hợp với các module phụ trợ. Nó cũng đã bị phong trào đồng hồ được trang bị trong trường hợp có thể nhìn xuyên qua lại với PVD (Physical Vapour Deposition) bôi nhọ kể từ khi ra mắt của Instrumento N ° Uno vào năm 2000.

Hầu hết các thành phần xem được hiện vẫn được mua lại từ các nguồn bên thứ ba được nổi tiếng với tay nghề và độ tin cậy topflight của họ. Hội thảo vẫn giám sát chặt chẽ toàn bộ quá trình sản xuất thông qua một loạt các bài kiểm tra nghiêm ngặt và kiểm tra các bộ phận và thành phần của cố gắng và thử nghiệm chất lượng, một khu vực mà de Grisogono đã không bao giờ thỏa hiệp. Tất cả các thiết kế de Grisogono được hoàn toàn được lắp ráp tại hội thảo.

Sau khi mua thiết bị sản xuất mới, hội thảo mở ra một dây chuyền sản xuất cho loạt ngắn và nguyên mẫu đầu vào năm 2007, một động thái được thiết kế vừa để giảm thời gian phản ứng và mở đường cho việc tiếp tục sản xuất trong nhà. Trong cùng thời gian, một bộ phận dịch vụ sau bán hàng mới đi vào hoạt động. Nó chủ yếu phục vụ cho những khách hàng cần bảo dưỡng và sửa chữa, đồng thời cũng giúp để đọc tiếp thị và bán hàng nhân với de Grisogono sản phẩm, thông qua kiến ​​thức chuyên sâu về thiết kế và lịch sử của họ.


de Grisogono - niên đại 1993 - 2011
Bộ sưu tập kim cương ICY

1993
Cùng với hai cộng sự, Fawaz Gruosi mở cửa hàng đầu tiên tại 104, rue du Rhône, tại Geneva, Thụy Sĩ, chuyên thiết kế đồ trang sức và bán objets d'art. Ông gọi đó là "de Grisogono" sau khi mẹ cộng sự '.
Bộ sưu tập ICY

1995
Fawaz Gruosi lá cộng sự của mình và bắt đầu de Grisogono S.A.

1996
Đã một mình mang kim cương màu đen trở lại từ lãng quên mặc dù độ giòn sự ít có và cực đoan của nó, Fawaz Gruosi tạo ra toàn bộ một bộ sưu tập trang sức kim cương đen.
Geneva cửa đã được mở rộng để chiếm con số 104 và 106 trên rue du Rhône. Nó sau đó sẽ di chuyển đến số 27 trên cùng một đường phố.
Bộ

1997
Một Grisogono boutique de mới mở ra ở London vào lúc 3 Burlington Gardens.
Chiếc kính nạm 240 viên kim cương

1999
Fawaz Gruosi tạo các đối tượng khác nhau, nạm kim cương đen bao gồm một cặp kính mát và các điện thoại di động đính kim cương đầu tiên có 240 viên kim cương đen.
de Grisogono cửa mở ra tại Khách sạn Palace ở Gstaad, Thụy Sĩ.


Bộ sưu tập Instrumento N ° Uno

2000
Fawaz Gruosi trình bày bộ sưu tập đồng hồ đầu tiên của mình được gọi là Instrumento N ° Uno tại Watch World và Trang sức chợ ở Basel. Ông là người đầu tiên sử dụng "Galuchat" trên dây đeo đồng hồ và là người đầu tiên trình bày một phong trào thép đen. Cùng năm đó, ông giới thiệu một bộ sưu tập trang sức mới với những viên kim cương màu trắng sữa được đặt tên là "Kim cương Icy".
de Grisogono Rome cửa mở ra.

Bộ sưu tập Instrumentino

2001
Fawaz Gruosi giới thiệu chiếc đồng hồ thứ hai của mình, được gọi là Instrumentino, các đối tác nữ tính của thiết kế đầu tiên của mình. Ông di chuyển đến 27, rue du Rhône tại Geneva và thiết lập các văn phòng của ông ở Plan-les-Ouates.
de Grisogono Porto Cervo cửa mở ra.
Bộ sưu tập Instrumento Doppio

2002
đồng hồ mới của năm được đặt tên là Instrumento Doppio, một "biến chứng" đồng hồ gồm có một tính năng hoàn toàn nguyên bản: hai mặt đồng hồ điều khiển bởi một và phong trào tương tự.
Một cửa hàng de Grisogono mở ra ở Kuwait. Các Chopard Group mua lại một lợi ích 49% trong công ty de Grisogono.

2003
Hai mẫu đồng hồ mới ra mắt: Instrumento Doppio Tre, cho thấy một múi giờ thứ ba, và Instrumento Tondo với một vòng quay số.
Fawaz Gruosi giới thiệu một bộ sưu tập đồ trang sức Galuchat cùng với dòng đầu tiên của trang sức phân phối.
Một công ty con de Grisogono được thành lập tại New York và mở cửa hàng ở Paris và St Moritz
Chiếc Instrumento Chrono
Bộ sưu tập lipstick

2004
Ra mắt ba mẫu đồng hồ mới: Instrumento Thép & Kim cương, Instrumento Chrono và Lipstick. de Grisogono mở cửa hàng ở New York, Hong Kong và Moscow. Các cửa hàng London chuyển đến 14A đường New Bond.
Chiếc Instrumento Grande vàng hồng
Chiếc Power Breaker

Chiếc Occhio Ripetizione Minuti

2005
Ba mẫu đồng hồ hơn tham gia đội hình de Grisogono: Instrumento Grande, Power Breaker và Occhio Ripetizione Minuti, một "biến chứng" thiết kế. Với một màng 12 lưỡi mở để lộ chuyển động trước khi đóng cửa lại, 50 đơn vị sản xuất chạy của đồng hồ chứng tỏ là một hit ngay lập tức.
de Grisogono nghĩ ra một sắc thái mới của vàng được gọi là "Browny Nâu vàng", được phát triển thông qua một điều trị đặc biệt dựa trên PVD (Physical bay hơi và Deposition) quá trình.
Công ty đã mở xưởng đồ trang sức riêng của mình ở Plan-les-Ouates.
Chiếc Uno Grande Seconde

2006
de Grisogono ra mắt bốn mẫu đồng hồ mới: Instrumento Grande ngày Open, Uno Grande seconde, FG Một "biến chứng" và được Tám.
Một công ty con de Grisogono mở cho doanh nghiệp tại Nhật Bản trong khi một cửa hàng thứ hai tại Moscow sẽ mở ra.
 Chiếc nhẫn được tạo gia từ viên kim cương 45,39 carat
Đức Trinh Nữ Scarlet

2007
Fawaz Gruosi mua lại cổ phần của Chopard trong de Grisogono S.A., trả lại công ty sở hữu duy nhất của ông. Một ruby ​​tự nhiên 45,39 carat được gọi là Đức Trinh Nữ Scarlet cho phép anh ta để tạo ra một chiếc nhẫn đáng nhớ tuyệt đẹp.
Ra mắt hai mẫu đồng hồ mới: Instrumento Novantatre và Piccolina.
Các công ty có vốn đầu tư trong một xưởng sản xuất đồng hồ lớn hơn mới được trang bị thiết bị sản xuất hiệu suất cao cao.
cửa hàng mới mở ở Tokyo và St Barthelemy.

2008
Fawaz Gruosi tổ chức kỷ niệm thứ mười lăm của de Grisogono S.A. Trong tháng, công ty đã công bố Meccanico dG, kết hợp lần đầu tiên trong lịch sử đồng hồ tốt một thời gian hiển thị kỹ thuật số chạy bởi một nguồn cung cấp năng lượng cơ học.
Chiếc Fuso Quadrato

2009
Năm nhận theo cách với bộ sưu tập đồng hồ mới de Grisogono của: Fuso Quadrato, có một màng ngăn titan hai lưỡi dao và một màn hình hiển thị múi giờ thứ hai. 16 cửa hàng trên toàn thế giới đánh dấu mở rộng ổn định của công ty và 150 cửa hàng soạn mạng lưới đại lý của nó. Đối tác mới đã lấy một cổ phần thiểu số (40%) vốn cổ phần de Grisogono của, củng cố và thúc đẩy sự phát triển tương lai của nó.

2010
Để chào mừng 10 năm của Instrumento N ° thu Uno, Fawaz Gruosi thăm lại biểu tượng này với một, kiên quyết Pop cách tiếp cận nghệ thuật táo bạo. Các bộ sưu tập Instrumento Grande nổi tiếng trở lại trong một phiên bản Chrono. Gerald Roden tham gia như Giám đốc điều hành của de Grisogono, với mục tiêu tái cơ cấu và phát triển mở rộng phát triển nhanh chóng của nó.
Chiếc Black Forever

2011
Fawaz Gruosi tôn vinh 15 năm của viên kim cương màu đen với một bộ sưu tập mới của những chiếc đồng hồ mang tính biểu tượng của nó được gọi là "Black Forever". Các Otturatore, mà nguyên mẫu đã được trình bày trong năm 2008, là hoàn toàn hiện tái cấu nội bộ và đưa ra trong phần thứ hai của năm.


Fawaz GRUOSI
CÂU CHUYỆN CỦA MỘT CREATOR MẠNH MẼ

Ông là linh hồn của các công ty, nhà sáng lập và tác giả của nó. Ông để lại dấu táo bạo của ông trên mỗi mảnh duy nhất được thiết kế cho de Grisogono.

Không có gì tiền định Fawaz Gruosi, Chủ tịch và người sáng lập của công ty De Grisogono, để trở thành một trong những tìm kiếm nhiều nhất sau khi thợ đồng hồ và trang sức của thế hệ mình. Sinh ra trên 08 Tháng Tám 1952, ông đã trải qua thời thơ ấu tại Florence với mẹ. Thúc đẩy bởi nhu cầu tìm một công việc, nhưng cũng ra quan tâm trong vẻ đẹp và nghệ thuật nói chung, ông bỏ học năm 18 tuổi để đào tạo thành một trợ lý bán hàng với một thợ kim hoàn nổi tiếng Florentine. Bảy năm sau, sau này hỏi Fawaz Gruosi để giám sát việc mở một cửa hàng mới tại London, đầu tiên là một nhà tư vấn cho các công ty, một vị trí mà nhanh chóng nhìn thấy anh ấy phát triển thành quản lý cửa hàng cho một khoảng thời gian bốn năm.

Hiện chỉ có 30, ông đã được nhận thấy bởi các gia đình Alizera, đại lý chính thức của Harry Winston, người đề nghị anh vị trí của đại diện tại Ả Rập Saudi. Với doanh nghiệp, năng động, Fawaz Gruosi đồng ý để có những thách thức. Sau ba năm, ông trở lại châu Âu, nơi ông đã ngay lập tức liên lạc với các công ty của Bulgari. Gianni Bulgari, một cái tên đình đám trong thế giới của đồ trang sức, tạo ra một vị trí mới cho anh trong giao dịch Precious Bulgari, đặt niềm tin của ông hoàn toàn ở trong người ấy. Do đó ông đã trở thành người đầu tiên trong nhóm có quyền truy cập vào các thương hiệu mới bộ sưu tập đồ trang sức-cao, mà ông sẽ chịu trách nhiệm bán trên toàn thế giới, ngoại trừ cho các cửa hàng Bulgari, trong đó chỉ có tám trở lại sau đó. Một lĩnh vực tuyệt vời của các cơ hội mở ra trước Fawaz Gruosi, cho phép anh ta để điền vào sổ địa chỉ của mình với các mối quan hệ nhiều ông đã xây dựng lên. Đó là một kinh nghiệm độc đáo và vô cùng phong phú, nhưng khi Gianni Bulgari rời công ty, anh quyết định làm theo và đứng trên đôi chân của chính mình. Trong năm 1993, mà không cần bất kỳ chiến lược thương mại, ông thành lập De Grisogono với hai cộng sự. Có trụ sở tại rue du Rhône tại Geneva, Fawaz Gruosi cung cấp cho khách hàng của mình đối tượng nghệ thuật độc đáo và bắt đầu thể hiện sự sáng tạo của mình thông qua trang sức sáng tạo và quý giá. Ngay sau đó, phong cách de Grisogono đã hình thành thông qua các thiết kế bao giờ hết ngạc nhiên hơn và khối lượng.

1996: sáng tạo THƯỞNG

Trong năm 1996, thậm chí không phải là một năm sau khi Fawaz Gruosi chia tay với hai cộng sự của ông, một chương mới đã mở ra cho de Grisogono. Được dẫn dắt bởi một thôi thúc liên tục để dự đoán xu hướng mà không sợ đi lạc từ theo dõi đánh đập, Fawaz Gruosi phục hồi uy tín của kim cương đen, vốn đã bị lãng quên bởi kim hoàn trong nhiều thập kỷ. Thật vậy, ông đã phát hiện một viên ngọc 190 carat được gọi là "Black Orlov" như ông đi qua nó một cách tình cờ khi đọc. Fawaz Gruosi là nghĩa đen cuốn hút bởi kim cương đen này. Sau đó, ông đã quyết định để dành cho nó một bộ sưu tập đồ trang sức hoàn toàn độc đáo, mà gặp được sự hoan nghênh nồng nhiệt. Chỉ ba năm sau khi ra mắt, trên mỗi carat giá của viên kim cương màu đen đen phát nổ trên thị trường đá quý - một sự kiện khá chưa từng có! Hôm nay, những viên kim cương màu đen tô điểm cho dây chuyền, bông tai, nhẫn, vòng đeo tay và, tuyệt vời tăng cường ngọc trai đầy gợi cảm, hồng ngọc rực sáng, ngọc lục sâu, hoặc kim cương khá đơn giản màu trắng. Được cổ vũ bởi thành công bất ngờ của mình, Fawaz Gruosi giữ tin tưởng vào bản năng của mình. sáng tạo đồ trang sức của mình, nhận ra trong số hàng ngàn, dụ dỗ khách hàng và làm ngạc nhiên các chuyên gia.

AN ĐỘT TALENT CREATIVE

Năm 2000, sau khi có được nhiều kinh nghiệm như một thợ kim hoàn, Fawaz Gruosi đã chọn để bước vào thế giới của đồng hồ và trình bày của ông lần đầu tiên xem tại BaselWorld. Ông gọi nó là Instrumento N ° Uno. Nó chỉ là người đầu tiên trong một chuỗi thành công. Nhờ sáng tạo Fawaz Gruosi, công ty De Grisogono đưa ra hơn 20 bộ sưu tập đồng hồ từ năm 2000 đến năm 2011, tất cả các phân biệt cứ vào thiết kế độc quyền và độc đáo.

Fawaz Gruosi chọn để chỉ đạo một khóa học tiên phong với việc tạo ra các Meccanico dG. Một kiệt tác đồng hồ tốt, nó được xếp hạng là chiếc đồng hồ đầu tiên trên thế giới với một màn hình hiển thị kỹ thuật số cơ khí cũng như một khuôn mặt tương tự, đặt một cơ chế startlingly phức tạp trong một thiết kế rất hiện đại.

Đồng thời, các bộ sưu tập đồ trang sức De Grisogono của đã được làm giàu với các mẫu thiết kế mới sử dụng cá đuối (Galuchat), kim cương trắng đục - "Diamonds Icy" - hoặc một sắc thái mới của vàng với ánh nhìn màu nâu gọi là "Browny Nâu vàng". Tất cả những phát minh này đã được ca ngợi bởi các khách hàng và là một minh chứng cho nguồn cảm hứng vô độ Fawaz Gruosi của.

Hôm nay, Công ty De Grisogono có một trong những đội bóng tốt nhất trình độ của thế giới của các thợ thủ công đồ trang sức, khả năng đưa ra biểu hiện cụ thể để ý tưởng Fawaz Gruosi bằng cách tạo ra đồ trang sức cao đặc trưng bởi sự hòa hợp hoàn hảo của các hình dạng và kích thước.

Fawaz Gruosi luôn luôn sáng tạo. Cả gemmologist cũng không được thiết kế riêng, ông nợ thành công của mình ở vị trí đầu tiên với niềm đam mê và sự tò mò của mình, và không nghi ngờ gì nữa, với tài năng sáng tạo chính hãng của ông. Tránh mánh lới quảng cáo thời trang, anh chơi với các xu hướng, đôi khi chống lại thủy triều, chỉ lắng nghe để cảm hứng của mình. "Tất cả mọi thứ tôi nhìn thấy xung quanh tôi, trong tự nhiên hoặc trong các đối tượng hàng ngày, là một nguồn cảm hứng", anh tâm sự.

Người của những đam mê

Ông tin tưởng trực giác của mình, luôn luôn không nhường đường trước những gì người khác sẽ cho là không thể. Ông sau không có quy tắc thương mại, và vẫn thành công trong tất cả mọi thứ anh ấy làm. Một công nhân khó mà kiên quyết, đòi hỏi tự nhiên là ở đây để phục vụ tiêu chuẩn cao nhất, Fawaz Gruosi sẵn sàng thừa nhận thiếu kiên nhẫn. "Tôi thích phản ứng, tôi muốn mọi thứ để di chuyển nhanh chóng", ông tâm sự. "Những người làm việc với tôi phải chấp nhận điều đó". Ngoài ra, ông không bao giờ có một kỳ nghỉ! "Tôi thấy nó rất khó để thư giãn, một số người thậm chí còn nghĩ rằng tôi là một kẻ điên". Ông cũng có rất ít các hoạt động dự phòng thời gian, nhưng nhiều đam mê, như chó, rượu ngon và thức ăn tốt; than ôi, quá thường xuyên unquenched, do thiếu thời gian. Tuy nhiên ông quản lý để giữ cho một số thời gian rảnh rỗi cho con gái của mình, Allegra và Violetta. Fawaz Gruosi cũng là trên đồng hồ khi nói đến mua đồ cổ - tốt Florentine - hoặc tác phẩm nghệ thuật. "Theo như các bộ sưu tập của tôi về các đối tượng hoặc bức tranh có liên quan, tôi tin vào trực giác của tôi, như đối với tất cả mọi thứ khác. Nó không quan trọng cho dù đó là một cổ điển hay một mảnh hiện đại, tôi chỉ đơn giản là một người chuộng mỹ." Một sự thật không đội trời chung đã được chứng minh trong 18 năm, thông qua các đồng hồ và đồ trang sức bộ sưu tập của de Grisogono, tiết lộ với mỗi mảnh niềm đam mê táo bạo của người sáng tạo của họ
~coppy~

Tuesday, 5 April 2016

Lịch sử thương hiệu Bovet

Logo
Bovet Fleurier SA là một hãng đồng hồ cao cấp Thụy Sĩ được thành lập vào ngày 1/5/1822 tại London, Vương quốc Anh, bởi Edouard Bovet. Hãng đã nổi tiếng từ lâu thông qua việc sản xuất đồng hồ bỏ túi cho thị trường Trung Quốc trong thế kỷ 19. Ngày nay, hãng sản xuất những chiếc đồng hồ nghệ thuật cao cấp, có giá từ 18.000 cho đến 2.5 triệu đô la Mỹ, với phong cách phản ánh lịch sử của mình. Thương hiệu này cũng được biết đến với những chiếc mặt đồng hồ cao cấp (như mẫu Fleurier Miniature Painting), kỹ năng chạm khắc cũng như thiết kế seven-day tourbillon của mình. Những chiếc Bovet đầu tiên cũng nằm trong số những chiếc đồng hồ làm nổi bật lên vẻ đẹp của các bộ phận chuyển động với thiết kế lộ máy và các bộ phận chuyển động được trang hoàng lộng lẫy. Đồng thời, chúng cũng là những chiếc đồng hồ đầu tiên có kim chỉ thứ hai. Công ty vốn có truyền thống tuyển dụng nhân công là những nghệ nhân đồng hồ nữ, điều vốn rất hiếm xảy ra đối với các công ty làm đồng hồ truyền thống tại châu Âu. Hiện tại, Pascal Raffy là chủ sở hữu đương nhiệm của công ty.



Lịch sử



Fleurier, quê hương của Bovet
Chế tác đồng hồ lần đầu tiên du nhập tới Fleurier nhờ Daniel Jean Jacques Henri Vaucher, một học trò của Daniel Jaenrichard vào năm 1730. Tại thời điểm đó, vùng lãnh thổ này vẫn nổi tiếng với ngành luyện kim, kết quả của việc tìm ra các mỏ sắt ở đây vào thế kỷ thứ 15. Ngành công nghiệp chế tác đồng hồ du nhập đến vùng này vào khoảng cuối thế kỷ thứ 18, nhưng do việc bán chịu cho các thị trường quốc tế, giá thành cần giảm xuống, và do sự bất ổn kinh tế đến từ cuộc chiến của Napoleon, ngành công nghiệp đồng hồ tại vùng này đã bị thiệt hại nặng nề. Đến giữa thế kỷ 19, thương hiệu đồng hồ Fleurier gần như độc quyền cho thị trường Trung Quốc, nơi cũng đồng thời làm nên tên tuổi của những chiếc đồng hồ Bovet.



Nhà sáng lập



Edouard Bovet (1797-1849) là con trai của nghệ nhân chế tác đồng hồ Jean Frederic Bovet. Ông học việc cùng cha mình tại Fleurier, nhưng tới năm 1814, vì những lý do chính trị, ông buộc phải rời bỏ quê nhà cùng hai người anh em là Alphonse và Frederic để tới London tiếp tục học làm đồng hồ. Sau một vài năm học việc tại hãng Messrs, Ilbury & Magniac, năm 1818, Magniac gửi Bovet tới Canton, Trung Quốc. Lúc này, ông đã bán được bốn chiếc đồng hồ với trị giá tương đương 1 triệu đô la Mỹ tại thời điểm hiện hành.
Thương hiệu Bovet nguyên gốc được sáng lập ra tại London vào năm 1822 bởi Edouard Bovet, với mục đích sản xuất đồng hồ độc quyền cho thị trường Trung Quốc. Vài nhà sử học tin rằng việc lập ra công ty tại London là bởi tại đó người ta có thể dễ dàng vận chuyển hàng hóa tới Trung Quốc nhờ vào đường vận chuyển hàng hải của công ty Tây Ấn. Anh trai của Edouard, Alphonse và Frederic ở lại London để lo việc vận chuyển, một người anh em khác, Charles-Henri, quản lý việc sản xuất tại Fleurier trong khi Edouard phát triển thị trường tại Canton.



Bovet không phải là thương hiệu đầu tiên cũng như không phải thương hiệu cuối cùng nhắm đến thị trường Trung Quốc. Họ chia sẻ miếng bánh này cùng với Ilbury, Jaques Ullmann và Vacheron Constatin và những thương hiệu khác nữa. Khi còn theo học việc cùng Ilbery tại London, người mà Bovet vay mượn vài ý tưởng thiết kế, ông đã phát hiện ra tiềm năng của thị trường Trung Quốc. Từ năm 1820 trở về trước, Vacheron Constatin thống lĩnh thị trường hoàng tộc phía Bắc Trung quốc, trong khi Bovet cầm đầu thị trường bình dân hơn ở phía nam. Thị trường đồng hồ Trung Quốc tỏ ra khá lỗi thời, đến thế kỷ thứ 19, chất lượng của những chiếc đồng hồ này đã xuống cấp đến mức những chiếc đồng hồ châu Âu nhanh chóng xâm chiếm thị trường.





Mặc dù có cái giá rất cao, nhưng những chiếc đồng hồ Bovet vẫn có tính đại chúng, và điều này đồng nghĩa với việc thương hiệu này đã bắt tay với các hãng sản xuất đồng hồ Thụy Sĩ khác như Guinand, để giúp họ thỏa mãn nhu cầu của mình. Tuy Juvet Fleurier cũng bán đồng hồ tại Trung Quốc, tuy nhiên cũng không hiếm khi người ta thấy những chiếc đồng hồ Bovet sử dụng bộ phận máy Juvet. Vào năm 1830, Bovet đặt thêm một cơ sở sản xuất tại Canton, nhưng bởi các lệnh cấm đến từ cuộc chiến Nha Phiến, họ buộc phải đóng cửa cơ sở này và mở ra một cơ sở khác nhỏ hơn tại Macau. Cũng vào thời điểm này, công ty chọn một cái tên khác, một cái tên Trung Quốc để tiếp cận và quảng bá tốt hơn đến tầng lớp trung lưu. Tên tiếng Trung của Bovet, “Bo Wei”, trở thành thương hiệu đồng hồ phổ biến ở Trung Quốc trong nhiều năm.



Thị trường đồng hồ Trung Quốc sụp đổ vào khoảng năm 1855 bởi sự cạnh tranh đến từ Pháp và Hoa Kỳ, cùng với sự xuất hiện của hàng loạt chiếc đồng hồ nhái Trung Quốc. Đến năm 1864, những rắc rối do cuộc chiến Nha phiến gây ra khiến gia đình Bovet bán đi phần sở hữu của mình tại công ty. Họ đã bán thương hiệu này cho các nhân viên quản lý của mình tại Fleurier, Jules Jequier và Ernest Bobillier.



Bước vào thế kỷ 20: Vượt khỏi Trung Quốc



Sau khi đóng cửa thị trường tại Trung Quốc, Bovet tiếp tục sản xuất đồng hồ bỏ túi với giá rẻ đi rất nhiều, và thường đóng vai trò như là cơ sở sản xuất hợp đồng cho các công ty đồng hồ khác. Hãng Landry Freses mua lại Bovet vào năm 1888, nhưng không đầu tư vào đây. Đến năm 1901, thương hiệu Bovet được bán trong phiên đấu giá ở Paris cho Cesar và Charles Leuba, hai người con trai của Ami Leuba. Jacques Ullmann and Co., một thương hiệu đồng hồ khác nổi danh ở Trung Quốc đã mua lại Bovet vào năm 1918. Sau khi Jacques Ullmann nghỉ hưu vào năm 1932, cái tên Bovet được thừa hưởng bởi Albert và Jean Bovet, những người thợ làm đồng hồ lừng danh đã tạo ra nhiều thiết kế cho mẫu Chronograph, ví dụ như thiết kế mono pattrapante có khả năng dừng kim thứ hai lại 1 khoảng ghi, trong khi bộ phận máy vẫn tiếp tục chạy. Đến năm 1948, Favre Leuba mua lại thương hiệu và các cơ sở sản xuất từ anh em nhà Bovet.
Một số đồng hồ tiêu biểu của Bovet

Chiếc Bovet Complications 7-Day Tourbillon Orbis Mund

Bovet Complications 7-Day Tourbillon Orbis Mundi: Phiên bản 7-Day Tourbillon Orbis Mundi này được Bovet sản xuất đúng 39 chiếc trên toàn thế giới. 7-Day Tourbillon Orbis Mundi sở hữu bộ chuyển động tự động Fleurier Caliber 13BA05 one-minute tourbillon complication với bộ tổng hợp giờ đồng bộ GMT của 24 thành phố và dự trữ năng lượng cho 1 tuần lễ (khoảng 168 giờ). Vỏ đồng hồ làm bằng vàng hồng 18K, đường kính đồng hồ 46mm, dày 17.44mm, mặt đồng hồ pha lê, mặt sau chịu nước ở độ sâu 30m. Giá của một chiếc 7-Day Tourbillon Orbis Mundi vào khoảng 105 ngàn đô la Mĩ.
Chiếc DIMIER Recital 3 Orbis Mundi

DIMIER Recital 3 Orbis Mundi: Model này được Bovet sản xuất đúng 50 chiếc trên toàn thế giới. Bộ chuyển động của đồng hồ là loại tự động Caliber 13BA05 Tourbillon. Nền hoa văn chìm hoa sen trên mặt đồng hồ làm tăng vẻ mềm mại. DIMIER Recital 3 Orbis Mundi cũng được dự trữ năng lượng trong 1 tuần. Vỏ đồng hồ bằng vàng hồng 19K, đường kính mặt đồng hồ 48mm và dầy 17.47mm. Giá của DIMIER Recital 3 Orbis Mundi vào khoảng 115 ngàn đô la Mĩ.
Chiếc Chateau de Motiers

Chateau de Motiers – Bộ sưu tập gần đây nhất của Bovet. Chateau de Motiers đưa đến nhiều lựa chọn cho khách hàng. Bộ chuyển động của đồng hồ hoạt động hoàn toàn nhờ chế độ lên giây thủ công, mỗi model của bộ sưu tập đều được thiết kế hiển thị giờ, phút, giây và ngày tháng theo lối cổ điển nhưng không kém phần lịch lãm thời trang. Người dùng có thể chọn lựa giữa các model vàng hồng, vàng trắng 18K hoặc thép không gỉ. Mặt sau đồng hồ được khắc hoa văn fleurisane.
~coppy~

Monday, 4 April 2016

Lịch sử của tất cả các loại đồng hồ


 Đồng hồ mặt trời.

Do sự tình cờ, người thời cổ xưa đã nhận xét rằng bóng của một thân cây bị cụt ngọn biến đổi khi mặt trời di chuyển trên bầu trời. Tương tự, khi cắm một cây gậy thẳng đứng trên mặt đất, bóng cây gậy cũng di chuyển và chiều dài của bóng này thay đổi trong ngày. Khi bóng của cây gậy ngắn, người thời cổ xưa biết rằng đây là lúc gần trưa còn khi bóng dài, họ biết rằng ngày bắt đầu hay sắp hết. Bằng cách dùng các hòn đá, người thời cổ xưa đã đánh dấu vị trí của bóng mát này. Như vậy dụng cụ sơ sài dùng để đo thời gian đã thành hình hơn 4,000 năm về trước và người ta gọi nó là “đồng hồ mặt trời” (sundial). Nhà thiên văn miền Chaldée tên là Berossus đã mô tả đồng hồ mặt trời vào thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch.

  Đồng hồ mặt trời có nhiều loại, nhiều hình dạng. Thứ đơn giản nhất là một cây gậy cắm thẳng đứng với tên gọi là “cột chỉ giờ “ (gnomon). Loại cột này có thứ nhỏ, có thứ lớn như chiếc Kim Cléopatre (Cleopatra’s Needle) hiện nay còn dựng tại công viên , thành phố New York. Cột chỉ giờ đã mang lại nhiều khuyết điểm: trong suốt một năm và ở cùng một giờ trong ngày, bóng của cột thay đổi cả về chiều dài lẫn về phương hướng. Mặc dù người ta đã thay đổi cây gậy bằng những “đồng hồ bóng mát” (obélisque) chôn chặt dưới đất, tất cả khuyết điểm trên vẫn còn tồn tại.

     Để sửa bớt các điều bất lợi, người thời xưa nghĩ ra các “nhật quỹ” (cadran solaire). Nhật quỹ là một thứ đồng hồ mặt trời, gồm có một miếng gỗ vuông nằm ngang và một miếng gỗ cắt chéo đóng thẳng góc với mặt nằm ngang. Miếng gỗ chéo có cạnh chéo song song với trục của quả đất, nghĩa là hướng về ngôi sao Bắc Đẩu. Nhờ điều sau này các bóng mát không thay đổi về phương hướng nữa và người thời cổ có được các độ chia nhất định. Cách dùng các nhật quỹ rất đơn giản: khi đặt nhật quỹ ở ngoài nắng, nếu bóng của nhật quỹ sát với cạnh số 9 thì lúc bấy giờ là 9 giờ. Nhật quỹ không phải là dụng cụ đo giờ chính xác và chỉ xử dụng được vào ngày có nắng. Nhật quỹ cần được chế tạo thích hợp với từng địa phương. Có kẻ đã ăn trộm một chiếc nhật quỹ tại Ai Cập và mang về đặt tại Hy Lạp. Tại nơi này, nhật quỹ đó đã chỉ sai giờ khiến cho kẻ ăn trộm phải thắc mắc.

   

Nhật quỹ được dùng từ thời xa xưa. Loại nhật quỹ cổ nhất còn sót lại tại Ai Cập được làm từ thế kỷ 15 trước Tây Lịch. Người Ai Cập cũng như người Hy Lạp rất ưa thích loại đồng hồ mặt trời này. Tới thế kỷ 19, các tay thợ sửa đồng hồ còn dùng các nhật quỹ thích hợp để lấy giờ. Người La Mã trái lại đã không chú trọng đến thứ dụng cụ đo thời gian này vì mãi tới năm 491 mà họ còn dùng một cột chỉ giờ cắm trước Hội Trường để giới hạn các bài diễn văn của các nhà hùng biện.




 2/ Đồng hồ nước.


Khi dùng nhật quỹ, người ta gặp phải nhiều điều bất tiện chẳng hạn như nhật quỹ không thể cho biết thời giờ vào những ngày mưa hay vào ban đêm. Vì vậy người Ai Cập lại nghĩ ra các đồng hồ nước (clepsydres) căn cứ vào mực nước trong một chiếc bình trong suốt.



Thứ đồng hồ nước đơn giản nhất gồm một bình hình trụ có chia độ nối với một ống nhỏ. Một bình chứa nước có chỗ thoát bớt, giữ cho nước chảy vào ống nhỏ với một lưu lượng nhất định. Sau khi bình hình trụ đã đầy, nước tự động chảy ra ngoài qua một ống hình chữ U nhờ nguyên tắc bình thông đáy. Người ta căn cứ vào mực nước dâng lên trong bình hình trụ để biết thời gian. Thí dụ mực nước lên tới vạch thứ 7 thì vào lúc đó, đồng hồ nước chỉ 7 giờ.

Các đồng hồ nước được cải tiến dần dần: một chiếc phao nổi trên mặt nước mang thanh gỗ có gắn một kim chỉ thị và kim này di chuyển trước một bảng có ghi thời giờ. Về sau trục của phao nổi lại được mắc vào một bánh xe răng cưa làm chuyển động kim chỉ thị trước một mặt có chia độ.

 

Đồng hồ nước tuy được phát minh sau đồng hồ mặt trời nhưng lại được dùng đồng thời với loại đồng hồ mặt trời. Trên bức tường trong ngôi nhà mồ tại một nghĩa địa của tỉnh Thèbes, Ai Cập, người ta còn tìm thấy chiếc đồng hồ nước của tu sĩ kiêm nhà thiên văn tên là Amenenhet, chết vào khoảng năm 1550 trước Tây Lịch. Nhờ đồng hồ nước, Amenenhet đã nhận xét rằng đêm đông dài 14 giờ, trong khi vào mùa hè, đêm chỉ dài 12 giờ và trong suốt một năm, đêm đã thay đổi nếu kể từ lúc mặt trời lặn tới khi mặt trời mọc. Như vậy đồng hồ mặt trời cho biết giờ giấc còn đồng hồ nước được dùng để đo các khoảng thời gian đã trôi qua.


 Vào khoảng năm 250 trước Tây Lịch, Ctésibius người Hy Lạp đã nghĩ ra được một thứ đồng hồ nước rất tài tình vì có bút ghi rõ thời gian. Ở chiếc đồng hồ này, nước chảy vào trong bình hình trụ theo một hình thức thi vị hơn: những giọt nước mắt từ đầu chiếc tượng đã rơi dần dần vào trong bình. Khi nước dâng lên, chiếc phao nổi đưa lên cao một hình người có cầm ở tay một chiếc kim chỉ thị và đầu kim này là cây bút chuyển động trước một khối trụ thẳng đứng. Sau 24 giờ, nước chảy ra, rơi xuống một bánh xe đạp nước (roue à aubes) và bánh xe này làm khối trụ thẳng đứng quay đi một chút.


Về sau người ta cải tiến loại đồng hồ nước bằng cách thêm vào bộ phận răng cưa và đồng hồ nước đã trở nên một thứ máy móc tuy đắt tiền nhưng vẫn được các người sống trên miền bờ biển Địa Trung Hải đòi hỏi. Vào thế kỷ thứ nhất trước Tây Lịch, Pompée đã bắt các Tòa Án phải dùng đồng hồ nước để tránh các luật gia nói “lảm nhảm”. Do các nhà hùng biện cần nhiều thời gian để bênh vực một lý lẽ, nên không tránh sao khỏi có sự gian dối trong vấn đề thời giờ. Người ta đã khám phá ra các vụ hối lộ nhân viên giữ đồng hồ để kéo dài thời gian và mang tiếng hơn cả, có luật gia đã đổ cả thứ nước bùn vào đồng hồ khiến cho đồng hồ chạy chậm hơn là đối với thứ nước trong.


Một khuyết điểm khác của loại đồng hồ nước là về mùa lạnh, nước đông đặc. Jules César đã gặp trở ngại này khi dẫn binh lính sang đất Anh. Trong thời gian đồn trú tại nơi này, César đã nhận thấy đêm mùa hè của xứ Anh ngắn hơn tại La Mã và vì kiến thức về thiên văn của viên Tổng Tài này không được uyên thâm nên ông ta không biết rằng đó là do sự khác biệt về vĩ độ.

Vào các thời đại trước, sự chuyển động của đồng hồ nước còn phức tạp nên vào năm 490 khi Vua Théodoric tặng Vua Gondebault xứ Burgondes chiếc đồng hồ, nhà Vua đã phải gửi theo cả người biết điều khiển đồng hồ. Chiếc đồng hồ danh tiếng nhất thời trước là của ông Hoàng Ả Rập Haroum-al-Raschid gửi tặng Hoàng Đế Charlemagne vào năm 809. Chiếc đồng hồ này bằng đồng thau, có 24 quả tròn cũng bằng đồng rơi dần vào trong môt chậu để chỉ giờ.

Còn một loại đồng hồ nước khác chạy rất yên lặng nên được nhiều người dùng và vì vậy, rất được thịnh hành vào thế kỷ 17, thời kỳ của các đồng hồ quả lắc. Loại này gồm một cái trống kim loại hình trụ dẹp, bên trong chia thành các căn vách a, b, c, d. . . và các căn này thông với nhau bằng các lỗ nhỏ. Trọng lực đã làm cho nước chảy từ căn nọ sang căn kia và làm quay dần chiếc trống kim loại. Trục của trống xuống dần và di động trước một bảng chỉ thời giờ. Người ta chỉ cần nhìn xem trục ngang đó nằm ở con số nào để biết mấy giờ.




 3/ Đồng hồ cát và nến chỉ giờ.

Ngoài hai loại đồng hồ mặt trời và đồng hồ nước, còn có đồng hổ cát (sablier) dùng trong các khoảng thời gian ngắn. Nguồn gốc từ xứ Ai Cập, loại đồng hồ này cũng liên quan với đồng hồ nước nhưng xuất hiện về sau. Ngày nay đồng hồ cát còn được dùng để biết thời gian nói chuyện tại máy điện thoại hay dùng đến khi ngâm trứng gà trong nước sôi.

Đồng hồ cát gồm một bình nhỏ, bụng thắt thật hẹp, cát ở phần trên nên chảy dần xuống phần dưới đến khi hết, lúc này người ta đổi đầu đồng hồ. Thời gian cát chảy từ phần trên xuống phần dưới đều bằng nhau. Đồng hồ cát có nhiều loại: có thứ một giờ, có thứ nửa giờ, lại có thứ dùng để đo lường các khoảng thời gian ngắn hơn, chừng 10 phút chẳng hạn và loại này được Hải Quân Anh dùng mãi cho tới năm 1839.

Ngoài ra loại nến chỉ giờ (chandelle horaire) rất được nhiều người dùng trong thời Trung Cổ. Loại nến chỉ giờ này căn cứ vào nguyên tắc thời gian trôi qua tỉ lệ với số nến cháy.


4/ Đồng hồ dùng lò xo.



Từ loại đồng hồ chạy nước, người ta tìm cách phát minh ra một dụng cụ khác đo thời gian. Người đầu tiên làm đồng hồ có máy móc là tu sĩ Gerbert, một nhà thiên văn. Vị linh mục Bénédictin này đã phát minh ra cơ phận “con buông” (escapement) vào năm 996. Thời đó, máy móc của đồng hồ rất phức tạp. Được chuyển vận do một khối nặng vì vậy đồng hồ rất to lớn và cồng kềnh. Lúc đầu đồng hồ được lắp một quả chuông và những tiếng chuông nhắc nhở các tu sĩ tới giờ cầu nguyện. Vì vậy mới có danh từ “clocca” trong tiếng La Tinh và “clock” trong tiếng Anh.

Vào năm 1288 một chiếc đồng hồ khá lớn, đánh từng hồi chuông và nhiều lần trong một ngày, được lắp trên tháp của tòa kiến trúc Westminster Hall, nước Anh. Người ta còn kể lại rằng Vua Henry 8 trong lúc thua bạc và quá túng tiền, đã ra lệnh tháo các quả chuông và bán đi để trả nợ.

Kỹ thuật đồng hồ được cải tiến dần và tới thế kỷ 14, đồng hồ đã thấy tại khắp nơi. Vào thời đó có nhiều kiểu đồng hồ nhưng chúng đều to lớn và chuyển vận do các quả nặng hơn 50 kí lô. Cũng có loại với mặt khắc 24 giờ và mặt này quay trước một kim chỉ giờ cố định. Vào thời kỳ đó, chiếc đồng hồ danh tiếng nhất là của Vua Charles 5. Chiếc đồng hồ thiên văn đầu tiên được tu viện trưởng (abbot) Richard Wellington chế tạo cho nhà thờ Saint Albans trong khoảng các năm 1326 và 1344. Một chiêc đồng hồ khác do Henry De Vick thuộc miền Wurttemberg nước Đức làm cho lâu đài hoàng gia tại Paris (ngày nay là Bộ Tư Pháp = Palais de Justice), chiếc đồng hồ này có 1 kim chỉ giờ và dùng quả nặng 227 kilô (chừng 500 pounds) rơi từ trên cao 9.8 mét (32 feet).

Do công dụng của đồng hồ, nhiều người đã đặt làm loại đồng hồ có máy móc khiến cho nghề thủ công này càng thêm phát triển. Nều đồng hồ lớn cồng kềnh được phổ biến thì các nhà quý phái hay các tay cự phú lại muốn có các đồng hồ nhỏ để dùng riêng. Người ta liền tìm cách chế tạo loại đồng hồ đeo được. Chiếc đồng hồ “đeo cổ” đầu tiên được Peter Henlein làm tại Nuremberg, nước Đức và được tất cả các nhà làm đồng hồ khác bắt chước. Henlein đã dùng một thứ lò xo làm động lực chuyển vận. Nhờ trí tưởng tượng dồi dào, Henlein đã chế tạo một chiếc đồng hồ có hình dáng và kích thước khá giống một quả trứng vì thế thứ đồng hồ này được dân chúng gọi là “Trứng Nuremberg” (Nuremberg Egg). Loại đồng hồ này rất đắt tiền và chuyện còn kể rằng Hầu Tước De Laborde đã phải mua một chiếc với giá 26 đồng vàng vào năm 1377.

Vào hậu bán thế kỷ 14, đồng hồ trở nên một thứ trang sức đắt tiền. Người ta thường dùng một sợi dây chuyền vàng để đeo đồng hồ trước ngực. Đồng hồ lại có nhiều kiểu nên cách xử dụng cũng khác nhau. Vào năm 1520, cha Frederic Pistorius, Bề Trên vùng Nuremberg, đã tặng cho tu sĩ Luther một chiếc đồng hồ. Martin Luther đã cảm ơn lại với câu sau: “. . . món quà này thực là quý giá. Tôi phải hỏi các nhà toán học để hiểu cách làm và cách xử dụng đồng hồ này vì từ trước tới nay, tôi chưa từng trông thấy một chiếc tương tự”.

Từ thế kỷ 16, các nhà làm đồng hồ bên châu Âu đã cố gắng rất nhiều để chế tạo các loại đồng hồ càng ngày càng nhỏ cỡ hơn, kiểu đẹp hơn, lại được nạm kim cương và họ cũng dùng các thứ kim loại quý để làm vỏ đồng hồ. Thời đó, nếu các nhà quý phái hãnh diện về đồng hồ đeo cổ thì các nhà thờ cũng lấy làm vinh dự về chiếc đồng hồ to lớn gắn tại mặt tiền.

Vào thế kỷ 17 và 18, một loạt các phát minh khoa học đã làm gia tăng độ chính xác của đồng hồ và làm giảm đi khối nặng dùng trong bộ máy đồng hồ. Đầu thế kỷ 17, Galileo đã mô tả tính chất của con lắc (pendulum). Chuyển động của con lắc khiến các nhà vật lý quan tâm. Ngày 16/7/1675, Christian Huyghens, nhà vật lý kiêm thiên văn người Hòa Lan, đã trình bày trước chính phủ Hòa Lan chiếc đồng hồ quả lắc đầu tiên rồi tới ngày 30/12/1675, Huyghens lại cho phổ biến phát minh về lò xo chôn ốc. Phát minh này đã giúp ích rất nhiều cho kỹ nghệ đồng hồ và đã hứa hẹn cho các nhà khoa học một dụng cụ có thể đo lường một cách chính xác các quãng thời gian ngắn như giây đồng hồ.

Năm 1676, một cải tiến quan trong khác lại được thực hiện: nhà vật lý người Anh Robert Hooke đã nghĩ ra thứ con buông có móc (the anchor escapement). Cơ phận này lúc đầu được xử dụng cho loại đồng hồ thiết lập tại các thiên văn đài nhưng về sau, một người thợ đồng hồ tên là Thomas Tompion đã mang áp dụng vào loại đồng hồ do gia đình anh ta chế tạo.

Sáng kiến của Robert Hooke về đồng hồ tuy đã khả quan hơn nhiều nhưng còn một khuyết điểm: tại cơ phận con buông có móc, sinh ra sự “đá hậu” (kickback) và điều này ảnh hưởng tới độ chính xác của đồng hồ vì thế vào năm 1715, George Graham đã cải tiến kỹ thuật đồng hồ bằng một thứ con buông “thoát” (the “deadbeat” escapement). Nhờ các sửa đổi thích hợp, đồng hồ quả lắc trở nên một dụng cụ chính xác vào năm 1800.

Các đồng hồ dùng lò xo lúc đầu còn mang nhiều khuyết điểm. Lò xo trở nên yếu dần khi nở ra và con lắc bên trong chuyển vận không đều khi đồng hồ bị đặt nghiêng. Mặc dù từ năm 1550, người ta đã làm các bánh xe răng cưa bằng đồng thay thế cho sắt nhưng đồng hồ vẫn chưa chỉ đúng giờ, vì thế kim chỉ phút dù có được thêm vào cũng không khiến cho nhiều người chú ý vì vào thời kỳ này, đồng hồ có thể chỉ sai từ nửa giờ tới hai giờ.

Trên đất liền, đồng hồ quả lắc của Huyghens tuy chuyển vận hoàn hảo khi treo tường nhưng lại không thích hợp với sự lắc lư của con tầu, điều này đã làm các nhà hàng hải bận tâm rất nhiều. Vào năm 1598, Vua Tây Ban Nha Philippe III đã treo một giải thưởng lớn cho người nào phát minh ra một thứ đồng hồ dùng được trên tầu đi biển nhưng không có ai lãnh thưởng.

Vào các thế kỷ trước, người thủy thủ ra biển mà không biết hiện đang ở tại kinh độ nào vì vậy mà sau mỗi năm, có hàng ngàn con tầu, hàng ngàn con người và nhiều tấn hàng đã bị lạc đường và mặc dù người ta đã vạch ra các kinh tuyến trên bản đồ, chưa ai tìm được cách xác định kinh độ. Về vĩ độ, cách tìm kiếm không khó khăn. Các người đi biển thường dùng kính lục phân (sextant) để đo độ cao của mặt trời hay của một vài ngôi sao đã biết rồi mở bảng cao độ mà tìm kết quả, nhưng việc xác định kinh độ đã gặp khó khăn hơn nhiều. Đối với vĩ tuyến, người ta căn cứ vào xích đạo còn kinh tuyến là những đường kẻ tưởng tượng nối liền hai cực và không có một điểm nào làm chuẩn. Năm 1675, Vua Charles II của nước Anh cho thiết lập Thiên Văn Đài Hoàng Gia (The Royal Observatory) tại Greenwich để “tìm kiếm kinh độ của các vị trí với mục đích làm hoàn hảo ngành hàng hải và môn thiên văn học”. Mặc dù vậy, kinh tuyến qua Thiên Văn Đài Greenwich chỉ được chấp nhận làm kinh tuyến gốc mãi về sau, vào năm 1884.

Từ khi có đồng hồ, các nhà hàng hải đặt hy vọng vào thứ dụng cụ đo thời gian này để có thể suy ra kinh độ của một nơi. Vì trái đất xoay chung quanh mình nó 360 độ trong 24 giờ nên người ta có thể so sánh giờ địa phương của một nơi với giờ của nơi có kinh tuyến chuẩn để suy ra kinh độ. Tới thế kỷ 17, số tầu biển tăng lên rất nhiều mà người ta chưa tìm được một phương pháp nào xác định tọa độ trên mặt biển. Do sự sai nhầm trên mặt biển, rất nhiều con tầu đã gặp tai nạn và trầm trọng hơn hết là Hạm Đội Anh do Sir Cloudesley Shovel chỉ huy, đã đi lạc hướng và đâm vào đá ngầm gần đảo Sorlingues (Scilly Islands). Vào khoảng 2,000 thủy thủ đã thiệt mạng. Tai nạn này xẩy ra vào năm 1707. Sau thảm nạn này, Quốc Hội Anh tuyên bố treo giải thưởng 20,000 bảng tặng nhà phát minh nào sáng chế được một thứ thì kế (chronomètre) dùng cho các nhà đi biển. Rất nhiều kiểu mẫu và họa đồ vẽ dụng cụ này được gửi tới Bộ Hải Quân nhưng không một sáng kiến nào đáp ứng được lời đòi hỏi.

14 năm sau khi Quốc Hội Anh treo giải thưởng mới có John Harrison, người miền Yorkshire, trình lên một thứ thì kế dùng lò xo và con lắc. Một hội đồng đã cứu xét đề nghị của Harrison và nhà phát minh được khuyến khích làm thử loại đồng hồ này. Năm 42 tuổi, ông Harrison đã đưa trình chiếc thì kế thứ nhất nhưng chỉ lãnh được một phần thưởng tượng trưng vì Bộ Hải Quân Anh còn đòi hỏi ở nhà phát minh một thứ tốt hơn.

Năm 66 tuổi, ông Harrison đã trình cho Hội Đồng cứu xét tất cả 4 chiếc thì kế. Trong chuyến du hành sang các hòn đảo Trung Mỹ (West Indies), chiếc thì kế thứ tư của Harrison đã chạy rất đúng, chỉ sai 5 giây nghĩa là người dùng có thể nhầm lẫn 1 hải lý ¼ so với các nhầm lẫn trước kia có thể lên tới 100 hải lý. Vào năm 76 tuổi và mặc dù rất kém về thị giác, Harrison còn trình bày một kiểu thì kế khác nhưng ông ta chỉ nhận được một lời hứa không chắc chắn của Bộ Hải Quân về số tiền thưởng 20,000 bảng. Tới lúc này, nhà phát minh không còn đủ kiên nhẫn nữa, ông ta xin yết kiến Vua George III. Nhà Vua đã vui vẻ nghe kể về tấm lòng nhiệt thành trong một thời gian khá lâu mà không được giải thưởng. John Harrison đã hiến cả cuộc đời vào công việc xác định kinh độ khá chính xác nên cuối cùng, ông ta lãnh giải thưởng khi đã 80 tuổi. Ba năm sau, John Harrison qua đời. Vào cuối thế kỷ 18, còn nhiều người tìm cách chế tạo thì kế. Tại nước Pháp và Thụy Sĩ, các nhà kỹ thuật đã thành công khá nhiều và đáng kể hơn cả là cải tiến vào năm 1781 của Thomas Earnshaw, một bác thợ đồng hồ người Anh.

Trong thế kỷ 17, các đồng hồ đã có kim chỉ phút và kim chỉ giây rồi qua thế kỷ 18, chân kính (jeweled bearings) được dùng để làm giảm độ ma xát và tăng độ bền của đồng hồ. Kỹ thuật chế tạo đồng hồ đòi hỏi những bộ phận tinh sảo, chính xác. Các nghiệp đoàn thợ đồng hồ dần dần ra đời để bảo vệ quyền lợi của những người trong nghề. Vào năm 1544 xuất hiện nghiệp đoàn thợ đồng hồ của thành phố Paris (the Paris Guild of Clockmakers) rồi tới năm 1630, Công Ty Làm Đồng Hồ (The Clockmakers Company) được thành lập tại thành phố London và công ty này còn tồn tại cho tới ngày nay. Các nước Hòa Lan, Đức và Thụy Sĩ cũng là các nơi danh tiếng sản xuất loại đồng hồ đẹp và hoàn hảo về cơ khí.

Trước kia vào thế kỷ 16, đồng hồ đeo ngực được nhiều người dùng nhưng không ai nghĩ tới việc chế tạo đồng hồ đeo tay. Cuối cùng đồng hồ đeo tay cũng ra đời và ngày nay chúng ta không biết từ bao giờ và ai nghĩ ra sáng kiến đó. Về nguồn gốc của đồng hồ đeo tay, có người cho rằng căn nguyên như sau: vào một buổi sáng đẹp trời, một thiếu phụ trông con trong công viên tại Genève đã quấn một chiếc đồng hồ đeo cổ chung quanh cổ tay để xem chừng giờ giấc. Bất chợt lúc đó có một anh thợ đồng hồ đi qua và trông thấy, khiến anh ta nẩy ra ý nghĩ chế tạo thứ đồng hồ đeo tay đầu tiên. Một giả thuyết khác lại cho rằng thủy tổ của loại đeo tay chính là chiếc đồng hồ của Nữ Hoàng Elizabeth I. Bá Tước Leicester, kỵ sĩ của Nữ Hoàng, đã tặng nhà Vua một chiếc đồng hồ tròn gắn trên chiếc vòng nạm đầy kim cương vào ngày đầu năm 1572.

Sự ra đời của đồng hồ đeo tay cũng không khiến mọi người quan tâm cho mãi tới năm 1806, Hoàng Hậu Joséphine de Beauharnais đã tặng cho cô con dâu là công chúa xứ Bavière hai cái vòng nạm ngọc trai và ngọc bích, trên một trong hai chiếc vòng này có gắn một chiếc đồng hồ rất nhỏ. Hai món kỷ vật đặc biệt này đều do nhà kim hoàn Nitot tại thành phố Paris thực hiện.

Tuy đồng hồ đeo tay đã ra đời nhưng nhiều người chỉ ưa thích loại đeo cổ vì nó vừa là một món trang sức, vừa là biểu hiệu của những người khá giả. Tới năm 1880 Bộ Hải Quân Đức mới nhận thấy rằng đồng hồ đeo tay là một vật dụng hữu ích cho các sĩ quan. Bộ liền đặt làm một lô đồng hồ đeo tay và các sĩ quan Hải Quân Đức là những người đầu tiên đeo loại đồng hồ này. Những đồng hồ đeo tay vào thời đó được làm bằng vàng tây, có mặt to, kim to và dây deo cũng bằng kim loại.

Sau loạt đặt hàng của Hải Quân Đức, các nhà sản xuất đồng hồ mới nghĩ tới việc tung loại đeo tay ra thị trường. Những đồng hồ thương mại này bằng vàng, có nạm ngọc và nhỏ hơn thứ của các sĩ quan Hải Quân một chút. Sau đó đồng hồ đeo tay của đàn bà cũng được sản xuất với những chạm chổ tinh vi. Nhưng mặc dù là một sản phẩm mới, đồng hồ đeo tay vẫn không được mọi người ưa chuộng và nhà sản xuất Girard phải cho xuất cảng thứ đó sang Chili bên châu Mỹ. Tuy nhiên tại xứ Chili, tình trạng còn bi đát hơn vì dân chúng không cần biết tới thời giờ và nếu có ai dùng đồng hồ thì cũng đều cảm thấy bất tiện khi đeo nó tại cổ tay mà làm việc. Đồng hồ đeo tay vì thế lại được đưa sang bán tại Bắc Mỹ và nó vẫn chịu số phận ế ẩm như trước.

Mãi tới năm 1902 và mặc dù đồng hồ đeo tay không được ai đòi hỏi, ông Wilsdorf, một nhà sản xuất đồng hồ tại Thụy Sĩ, cứ cho xuất cảng loại này sang nước Anh vì ông nhận thấy tầm quan trọng của nó. Nhưng tình trạng cũng chẳng khả quan hơn và người Anh còn cho rằng đồng hồ có thể bị liệt máy vì các chuyển động thông thường của cánh tay.

Đồng hồ đeo tay đã chịu số phận hẩm hiu tới năm 1927 để rồi một sự tình cờ khiến cho mọi người phải chú ý tới nó. Nguyên một cô thư ký đánh máy trẻ tuổi tên là Mercédès Gleitze có ý định bơi qua biển Manche và cô đã thành công trong ngày 7/10/1927. Thành tích của cô Gleitze không phải là mới lạ vì vào thời bấy giờ, đã có nhiều người đàn bà vượt biển trước cô. Nhưng đám người đón cô Gleitze trên bờ đã ngạc nhiên khi thấy cô đeo đồng hồ nơi cổ tay mà họ tưởng rằng cô đã quên chưa cởi nó ra trước khi xuống nước. Nếu vậy chiếc đồng hồ này đã bị hư hỏng vì nước biển ngấm vào.

Khi trả lời về chiếc đồng hồ này, cô Gleitze đã phá lên cười. Cô cho mọi người biết đó là thứ không ngấm nước và cô dùng nó để xem giờ lúc đang bơi. Ngày hôm sau, tờ báo Daily Mail đăng tải bài tường thuật mà không quên nói về chiếc đồng hồ đặc biệt của cô Gleitze. Tin hấp dẫn chưa hề có này khiến mọi người phải chú ý và dân tộc Anh là giống ngươi ưa chuộng thể thao lại càng lấy làm thích thú. Họ liền đua nhau mua đồng hồ đeo tay để dùng khi chơi dã cầu, lúc đua ngựa hay khi đi câu cá. . . Từ đó, đeo đồng hồ ở tay trở thành một thứ phong trào. Lớp người dùng đồng hồ đeo tay ngày một nhiều và đến năm 1937, đồng hồ đeo tay đạt tới mức thành công kỷ lục. Kỹ thuật chế tạo đồng hồ đeo tay càng ngày càng phát triển, tinh vi hơn, để tiến từ loại không ngấm nước tới loại không bị ảnh hưởng của từ tính, của sự va chạm và cũng có loại tự động lên dây.

Tại Hoa Kỳ, chiếc đồng hồ loại lớn đầu tiên được chế tạo cho thành phồ New York là vào năm 1716 rồi vào năm 1753, một chiếc đồng hồ khác được gắn bên trong Sảnh Đường Độc Lập (the Independence Hall) của thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania. Sau Cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ (1775/1783), đồng hồ được sản xuất khá nhiều. Vào thập niên 1800, Simon Willard của tỉnh Roxbury, tiểu bang Massachusetts và Eli Terry của tiểu bang Connecticut là những người xin bằng sáng chế về 2 loại đồng hồ đặc biệt (gọi là banjo clock và pillar-and-scroll clock). Cũng vào thời gian này, Seth Thomas thiết lập Công Ty Đồng Hồ (the Seth Thomas Clock Company) tại tỉnh Thomaston, thuộc tiểu bang Connecticut. Công ty này đã trở thành một trong các cơ xưởng sản xuất đồng hồ lớn nhất Thế Giới vào giữa thế kỷ 20.

Trong thập niên 1920, người ta thấy xuất hiện loại đồng hồ dùng giòng điện xoay chiều (electric clock). Vào thời kỳ này, loại đồng hồ điện có thể sai vài giây trong một ngày nên chỉ thích hợp với việc xử dụng trong nhà. Trái lại trong các phòng thí nghiệm vật lý và tại các đài thiên văn, thời gian cần được tính đúng từng phần ngàn của giây và có khi cả phần tỉ của giây, vì vậy vào năm 1929 các nhà khoa học đã áp dụng tính chấn động của tinh thể thạch anh (quartz) vào phương pháp chế tạo đồng hồ. Nhờ thạch anh, đồng hồ loại mới này (quartz-based clock) có thể chạy sớm hơn hay chậm hơn chừng 2 phần ngàn của giây trong một năm.

Vào năm 1948 Nha Đơn Vị Mẫu (The National Bureau of Standards) của Hoa Kỳ đã thành công trong việc chế tạo đồng hồ nguyên tử (atomic clock) dùng chấn động của nguyên tử ammôniac với tần số 23,870 mégacycles. Sự chính xác của thứ đồng hồ này lên tới một phần 100 triệu.

Về sau vào năm 1955, Tiến Sĩ Charles H. Townes thuộc trường Đại Học Columbia, Hoa Kỳ, đã chế tạo được thứ đồng hồ có tên gọi là ammonia maser. Loại đồng hồ này chỉ có thể chạy sai 1 giây trong 2 thế kỷ. Tại Viện Kỹ Thuật Massachusetts (MIT), Tiến Sĩ Jerrold R. Zacharias đã thành công về chiếc đồng hồ nguyên tử dùng chất Cesium (cesium atomic clock). Tiến Sĩ Zacharias đã tính rằng nếu thứ đồng hồ này chạy từ thời Chúa Cứu Thế tới ngày nay, nó sẽ nhanh hay chậm ½ giây đồng hồ.

Do đà tiến triển về kỹ thuật, các nhà khoa học tin rằng áp dụng quan trọng nhất của đồng hồ nguyên tử là sự thiết lập một mẫu mực về thời gian và mẫu này hoàn toàn độc lập với chuyển động của trái đất và các vì sao.
~coppy~

Sunday, 3 April 2016

Lịch sử thương hiệu ANONIMO


Anonimo Firenze là một thương hiệu đồng hồ Ý.Cac sản phẩm của hãng được sản xuất tại Florence, Ý với các phong trào Thụy Sĩ cung cấp bởi ETA SA hoặc Sellita.
Federico Massacesi

Anonimo được thành lập bởi Federico Masacesi vào năm 1997 tại Florence, Ý . Ông tìm cách để tạo ra một công ty đồng hồ mà có thể tận dụng truyền thống làm đồng hồ của Florence. Mục tiêu này đã được đẩy nhanh khi thợ đồng hồ Panerai chuyển từ Florence đến Neuchatel, Thụy Sĩ. Nhiều thợ đồng hồ Panerai kỳ cựu đã được đưa vào bởi anonimo.
Chiếc Polluce

Chiếc Millemetri

Chiếc Militare

Chiếc Professionale

Anonimo focues độc quyền trên đồng hồ sản xuất ofmechanical. Anonimo sản xuất một số mô hình bao gồm các Polluce, Millemetri, Militare và professionale, dao động từ $ 2.500 đến hơn 10.000 $.

Trong năm 2013, anonimo Firenze đã được mua lại và trở thành anonimo SA, vẫn là một thương hiệu đồng hồ độc lập. Công ty chuyển trụ sở chính đến Thụy Sĩ.
~coppy~

Saturday, 2 April 2016

Lịch sử thương hiệu Andreas Strehler

Ông Andreas Strehler

Andreas Strehler sinh năm 1971 ở Winterthur, Thụy Sĩ là một thợ đồng hồ Thụy Sĩ và thiết kế của các phong trào đồng hồ.

Andreas Strehler đã học về đồng hồ tại cửa hàng của một thợ đồng hồ trong Frauenfeld và tốt nghiệp nhà sản xuất đồng hồ-Rhabilleur với một Diploma Liên bang Thụy Sĩ vào năm 1991. Đồng thời, ông đã tham dự trường inSolothurn của thợ đồng hồ.Sau khi tốt nghiệp, ông bắt đầu công việc đầu tiên của mình trong Le Locle tại Renaud & Papi SA mà ngày nay thuộc về Audemars Piguet như Audemars Piguet Renaud & Papi SA. Ở đó, ông là người thợ đồng hồ đầu tiên chủ đã thuê. Strehler được bổ nhiệm làm người đứng đầu của mẫu và trách nhiệm thực hiện các sáng kiến ​​kỹ thuật của công ty. Vào cuối năm 1994, ông rời Renaud & Papi và di chuyển trở lại Wülflingen quê hương gần Winterthur.

Vào ngày đầu tiên của năm 1995, Strehler mở xưởng riêng của mình. Ban đầu, giống như nhiều đồng nghiệp của mình, ông tập trung vào sửa chữa và khôi phục lại đồng hồ cũ và đồng hồ.

Năm 2000 được bổ nhiệm làm thành viên của theAcadémie Horlogère des Créateurs Indépendants (AHCI)

Năm 2005, ông đã kết hợp UhrTeil AG, một công ty đứng tên ông làm việc cho ngành công nghiệp đồng hồ. Tên UhrTeil chơi với những lời Đức Uhr Teil và Urteil. Bên cạnh đó các kỹ thuật của các thành phần, các biến chứng và các phong trào hoàn thành, công ty Strehler cũng sản xuất các thành phần đã được phát triển tại nhà trên máy, một số trong đó đã được phát triển bởi Strehler. Các danh mục đầu tư bao gồm sản xuất các nguyên mẫu và hàng loạt nhỏ và lớn cho nhiều thương hiệu đồng hồ nổi tiếng.

Năm 2007 Andreas Strehler di chuyển nơi cư trú của mình và các công ty để sirnach trong cantonThurgau gần hồ Constance.
Chiếc Andreas Strehler Tischkalender

Năm 1998, Strehler trình bày "Tischkalender" (bảng lịch), tđồng hồ đầu tiên của mình.Các đồng hồ bảng với lịch vạn niên kết hợp một đồng hồ bỏ túi có thể tháo rời. Nếu đồng hồ bỏ túi được chèn vào các đơn vị bàn, các latte lịch vạn niên là đồng bộ. Một số tính năng an toàn ngăn chặn maloperation. Mỗi "Tischkalender" làm việc theo nguyên tắc khóa và chìa khóa chỉ với một kết hợp đồng hồ bỏ túi riêng. Lịch để bàn có mùa xuân của riêng mình để chuyển đổi màn hình hiển thị lịch nhưng không làm việc một cách độc lập. Nếu chủ sở hữu và đồng hồ bỏ túi của mình đang đi, thời gian vẫn còn đứng. Khi trở về của các chủ sở hữu và sau reinserting chiếc đồng hồ bỏ túi, lịch để bàn phát hiện bao nhiêu ngày đã trôi qua và di chuyển các dấu hiệu ngày đến ngày chính xác.
Chiếc Andreas Strehler Zwei

Năm 1999, Strehler trình bày một chiếc đồng hồ bỏ túi thứ hai, "Zwei" (tiếng Đức: Hai).Điều này có dấu hiệu chuyển đổi được. Tại một nút nhấn, tay của các đồng hồ chỉ ngày (phút tay) và các tháng (giờ tay). Các tay di chuyển độc lập và sẽ luôn luôn đạt được vị trí của mình một cách ngắn nhất. Đối với cơ chế này, Strehler nhận patent.In đầu tiên của mình năm 2001 Strehler thực hiện các cơ chế của "Zwei" trong một đồng hồ đeo tay. Đối với điều này, ông thiểu hóa các cơ chế được thiết kế cho một chiếc đồng hồ bỏ túi để phù hợp với một đồng hồ đeo tay.

Trong những năm 2003-2011, Strehler phát triển các phong trào cho các thương hiệu H. mới được thành lập Moser & Cie. Tại Schaffhausen.Trong số các phong trào này là Perpetual Moon (giai đoạn của mặt trăng) với độ lệch của chỉ một ngày 1.000 năm và Perpetual một, lịch vạn niên với một dấu hiệu ngày lớn vào vị trí 03:00. Một tính năng đặc biệt nữa của phong trào này được gọi là Flash-Lịch, việc chuyển đổi tức thời từ ngày cuối cùng của tháng đến ngày đầu tiên của tháng tiếp theo, nghĩa là từ 29 tháng hai - 1 Tháng Ba
Chiếc Opus 7

Trong năm 2007, Strehler phối hợp với Harry Winston thiết kế phong trào cho Opus 7. Opus 7 là một phát triển hơn nữa của "Zwei".
Chiếc Papillon

Trong năm 2008, Strehler trình bày "Papillon". (Tiếng Pháp: Butterfly), một đồng hồ đeo tay mới kết hợp nhiều nguyên tắc xây dựng thương hiệu của mình để đạt được một mở, phong trào sống và cho phép một cái nhìn sâu vào hoạt động của phong trào Với "cocon" (tiếng Pháp: Cocoon), được trình bày trong năm 2012, một dòng mới của đồng hồ được đưa ra. Các "cocon" trường hợp được sử dụng như một cơ sở để tiếp tục phát triển và các mô hình mới.
Chiếc andreas strehler Grasshopper

Trong năm 2013, các "Sauterelle".. (Tiếng Pháp: Grashopper) được trình bày Nó có thiết bị lực không đổi riêng Strehler, một cái gọi là rémontoir d'égalité, trong đó cung cấp các escapement với năng lượng liên tục  Bởi thiết bị này, những vi phạm đó là vốn có đối với bất kỳ chuyển động hầu như loại bỏ và một biên độ tuyến tính của bánh xe cân bằng đạt được trong suốt thời gian của năng lực của chủ động trong 78 giờ.

Mở SalonQP ở London vào tháng Mười năm 2014, "Sauterelle à lune perpétuélle" đang được phát động. Đây là giai đoạn chính xác hầu hết các dấu hiệu mặt trăng với độ lệch của một ngày trong 2'060'757 năm. Các "Sauterelle à lune" được trao một kỷ lục thế giới:. "Sauterelle à lune perpétuelle Andreas Strehler (Thụy Sĩ), với độ lệch của 1 ngày trong 2'060'757 năm, như xác nhận trong tháng 11 năm 2014"

2015 Strehler trình bày "Papillon d'Or" "(tiếng Pháp: bướm vàng). Theo một cây cầu bướm làm bằng vàng 18k, cơ chế tinh tế của phong trào là hoàn toàn có thể nhìn thấy trên mặt sau của phong trào, sức mạnh reserveis chỉ định bởi một Incorporating cơ chế. một bánh khác biệt nhỏ. [12]

Strehler là một chuyên gia có uy tín cao đối với việc xây dựng và sản xuất các bánh răng khác biệt và bánh răng nón đúng.

giải thưởng

^ Andreas Strehler, Kỹ sư cho các thương hiệu-sản xuất đồng hồ cho ít, ISBN 978-3-941539-89-1 ^
Magazin: ArmbandUhren, Ausgabe 4/98, Seite 54 ^
Tạp chí: Trang sức thời gian, tháng 6 năm 1999, trang 34 ^
 Uhrenkatalog: Đồng hồ quốc tế năm 2001, Seite 52 ^
QP Magazine, số bốn mươi lăm năm 2007, trang 105, "Một thợ đồng hồ trẻ trong nhu cầu mạnh mẽ" ^
Uhrenmagazin, Ausgabe 6/2007, Seite 10 ^ Timecraft Tạp chí, báo cáo đặc biệt của watchshows 2008, trang 134 " float như một bướm "^
 Thurgauer Zeitung, 22.Mai 2012, Seite 35," Uhrmacher, eine seltene Spezies "^ Magazine QP, Số Sáu mươi bốn, năm 2014, trang 72 ^
Magazine: ArmbandUhren, Ausgabe 3/13, Seite 30 ^
Paris Capitale, số 192 Février 2015, trang 22 ^
 La Revue des Montres, N.206 Juin 2015 ^
Chronos Trung Quốc 2015/2, trang 166
~coppy~